Một chữ đơn độc, nặng nề như tiếng chuông, vang vọng mãi trong đầu ta. Mỗi một tiếng vang lên đều như búa đá rìu sắt giáng xuống tim ta.
Ta nhớ đến quả thanh mai năm tám tuổi, cây trâm ngọc bích năm mười hai tuổi, cho đến cả chén rượu hợp cẩn sau khi thành hôn. Những chuyện này, từng việc từng việc, không gì không minh chứng cho tình sâu nghĩa nặng giữa ta và Tạ Tương.
Ta và hắn rõ ràng là một đôi phu thê cầm sắt hòa minh, ân ái mặn nồng.
Vậy mà sống lại một đời, hắn lại không muốn cưới ta nữa.
Ta không tài nào hiểu nổi tại sao.
Những lớp vỏ ngụy trang mạnh mẽ bỗng chốc sụp đổ, ngay cả giọng nói cũng bất giác run rẩy.
“Tại sao?”
Tạ Tương không trả lời.
Hắn chỉ để lại một câu: “Thẩm cô nương vốn thông minh như băng tuyết, trong sạch như ngọc, hai nhà kết thân không thành, đều là lỗi của Tạ mỗ.”
Sau đó liền vội vã rời đi, gần như là bỏ chạy khỏi cửa.
Ngày hôm sau, Tạ gia cho người mang đến khế ước kết thân và định lễ.
Đương nhiên không phải kết hôn thân, mà là huyết thân.
Bá phụ và bá mẫu Tạ gia nói, muốn Tạ Tương nhận ta làm nghĩa muội.
Phụ thân tức giận không hề nhẹ.
Người vốn ghét nhất là bị thiên hạ chê cười là kẻ thô phu võ biền, lần này giận đến mức đích thân vác trường thương ra, một hơi quét sạch người Tạ gia khỏi cửa.
Bá mẫu Tạ gia trước khi bị đuổi đi, còn nắm tay ta lau nước mắt.
“Con ngoan, là Tạ Tương nó không có phúc, Tạ gia chúng ta có lỗi với con…”
Sau một hồi ầm ĩ như vậy, giao tình bao năm của hai nhà Thẩm-Tạ từ đây chấm dứt.
Nhưng cũng chính vì Tạ gia đến một phen, chuyện của ta và Tạ Tương cuối cùng cũng có một lời giải thích. Người ngoài tò mò hỏi đến, người Tạ gia cũng chỉ nói ta và Tạ Tương là tình huynh muội, không hề bôi nhọ thanh danh của ta.
Đến đây, chuyện này mới coi như kết thúc.
Ba ngày sau, trong kinh thành có tin Tạ Tương lên đường ra biên ải xa xôi.
Ta và Tạ Tương đều là con nhà tướng võ, nhưng vì Tạ gia cả nhà trung liệt, Tạ Tương lại là độc đinh duy nhất của đời cháu, nên kiếp trước hắn không hề nhập ngũ vào năm mười bảy tuổi. Mà là sau khi ta và hắn thành hôn và sinh hạ trưởng tử, mới lên đường ra sa trường.
Lúc đó ta ở nhà trông con, ngày đêm lo lắng cho hắn, sợ đao kiếm trên sa trường không có mắt, cướp đi tính mạng của hắn.
Thế nhưng bây giờ…
Bây giờ chúng ta không thành hôn, không có con cái. Càng không có cái cảm giác lo lắng vô căn cứ ấy, vậy mà hắn vẫn nhập ngũ.
Một cơn đau nhói truyền đến từ lòng bàn tay, cúi đầu xuống, mới thấy mẫu thân đang véo ta.
Người nhíu mày nói nhỏ: “Trâu gia công tử đã đến rồi, con còn ngẩn ra đó làm gì?”
Lúc này ta mới hoàn hồn, nhìn về phía bóng người sau tấm bình phong.
Người đó một thân áo xanh, thẳng tắp như trúc mực, không có vẻ khí phách hăng hái như Tạ Tương, mà mang vài phần thanh tú văn nhã.
Người trước mắt không phải ai khác, chính là Trâu gia nhị lang Trâu Trì.
Trâu gia không phải nhà quyền quý gì, hiện tại trong tộc cũng không có ai làm quan trong triều.
Điều duy nhất có thể nói đến, là tổ tiên từng có người làm đến chức Thái sư, vì vậy cũng có vài phần thể diện ở kinh thành. Nhưng đến đời của Trâu Trì, chỉ còn lại một danh tiếng tốt, và một căn nhà cũ.
“Trâu gia nhị ca này vừa đỗ tiến sĩ trong kỳ thi mùa xuân, đang lúc tiền đồ như gấm, lại viết được một tay văn hay, kém Tạ Tương ở chỗ nào chứ?”
Mẫu thân cúi đầu thì thầm, chỉ hận không thể để ta đồng ý ngay cuộc hôn sự này.
Phụ thân xuất thân tướng võ, lời ăn tiếng nói làm mất lòng không ít người, nhưng duy chỉ có Trâu gia là được người ưu ái.
Trước đây nếu không có Tạ Tương, e là đã sớm bàn chuyện cưới xin với Trâu gia rồi. Do đó, bây giờ không có Tạ Tương, người đầu tiên người nghĩ đến, chính là Trâu Trì.
Nhưng ta nhìn người trước mắt, lại chỉ thấy phiền chán.